Danh mục
Đơn vị trực thuộc
Liên kết
Thống kê
Số lượt truy cập:
4725490
Đang online:
239
Sâu bệnh - dịch bệnh
Dự báo Diễn biễn các đối tượng dịch hại trên cây trồng vụ Đông năm 2019

Ngày 14/10/2019

 

    

            I. Nhận định tình hình thời tiết

Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Trung ương, vụ Đông 2019 thời tiết diễn biến khó lường, khả năng là vụ Đông ấm, mưa lớn đầu vụ gây khó khăn trong việc gieo trồng và sinh trưởng của cây trồng. Bão trên khu vực Biển Đông đến muộn hơn so với TBNN. Dự báo số lượng bão và ATNĐ hoạt động trên khu vực Biển Đông và ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền trong năm 2019 có khả năng ít hơn so với TBNN nhưng cần đề phòng khả năng xuất hiện của những cơn bão mạnh và có quỹ đạo phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực Bắc Trung Bộ. Nhiệt độ trung bình từ tháng 9 - 10/2019 trên khu vực Bắc Trung Bộ phổ biến ở mức cao hơn TBNN cùng thời kỳ khoảng 0,5 - 1,00C. Riêng tháng 11 -12/2019 ở mức cao hơn so với TBNN từ 1,0 - 1,50C.

II. Dự báo tình hình dịch hại

1. Trên cây ngô

1.1. Sâu keo mùa thu: Là đối tượng dịch hại mới, gây hại trên nhiều loại cây trồng và khả năng phá hại rất lớn; đã gây hại nặng trong vụ Hè Thu năm 2019 ở các huyện: Hương Sơn, Hương Khê, Vũ quang, Cẩm Xuyên… Sâu gây hại từ giai đoạn ngô 3-5 lá đến thu hoạch, gây hại nặng các vụ trong năm. Sâu non sau khi nở chui thẳng vào ngọn cây ngô, nằm sâu trong nõn, chúng gây hại từ trong ra ngoài, phần ngọn cây ngô thường bị cắn đứt trước, sau đó chúng ăn khuyết dần các lá tiếp theo, cây sẽ sinh trưởng chậm và có thể sẽ chết héo do không còn khả năng quang hợp.

1.2. Sâu xám: Gây hại ở tất cả các vùng vào giai đoạn cây con. Sâu thường gây hại vào ban đêm, sâu tuổi 1- 3 ăn lá ngô non hoặc gặm xung quanh thân ngô. Tuổi 4 trở đi sâu phá mạnh, cắn đứt ngang thân ngô non kéo  xuống đất. Sâu tuổi 6 mỗi đêm có thể cắn đứt 3 - 4 cây ngô non. Khi cây ngô có 7 - 8 lá, thân cây đã cứng, sâu th­ường đục vào thân gần sát gốc ăn phần non mềm ở giữa làm thân cây ngô bị héo và chết. Ruộng ngô bị sâu xám gây hại trông mất khoảng lỗ chỗ, mật độ cây giảm, thiệt hại về năng suất. Sâu xám thường hại nặng trên ngô trồng trên đất cát pha và đất thịt nhẹ.

1.3. Sâu đục thân, đục bắp: Sâu hại suốt quá trình trình trưởng cây ngô, cao điểm gây hại từ khi ngô trổ cờ đến hình thành bắp, sâu non tuổi 1, tuổi 2 cắn thủng lá nõn hay cuống cờ làm cờ bị gãy, từ tuổi 3 trở đi, sâu đục vào trong thân cây làm cho cây suy yếu, còi cọc, phát triển kém hoặc đục vào bắp cắn phá hạt làm giảm năng suất và chất lương hạt.

1.4. Rệp cờ:  Thường gây hại từ khi cây ngô 8, 9 lá đến khi thu hoạch. Rệp bám trên lá, trong nõn, bẹ lá, lá bi, hoa cờ v.v… chích hút nhựa các bộ phận làm cho cây còi cọc, bắp nhỏ, năng suất và chất lượng ngô giảm. Rệp phát triển nhanh và gây hại mạnh khi nguồn thức ăn đầy đủ, nhất là những ruộng ngô gieo dày, ẩm độ không khí trong ruộng cao hoặc ruộng ngô bị hạn.
Rệp ngô còn là môi giới truyền virut gây bệnh khảm lá, đốm lá ngô.

1.5. Bệnh khô vằn: Thường phát sinh vào thời kỳ 6 - 7 lá, sau đó phát triển mạnh tăng nhanh tỷ lệ bệnh vào thời kỳ ra bắp đến khi thu hoạch làm khô chết cây non, hoặc thối hỏng bắp ngô. Bệnh phát sinh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết có mưa, ẩm độ cao, trên những ruộng ngô gieo trỉa dày.

1.6. Bệnh đốm lá: Gồm đốm lá lớn và đốm lá nhỏ, đốm lá nhỏ thường xuất hiện sớm khi cây ngô 2 - 3 lá trở đi, đốm lá lớn xuất hiện muộn hơn ở giai đoạn 7 - 8 lá trở đi. Kỹ thuật thâm canh không tốt, đất xấu, ruộng hay bị mưa úng, trũng, bệnh thường gây hại nặng.

1.7. Bệnh lùn sọc đen Phương Nam: Những năm gần đây bệnh đã xuất hiện rải rác ở các vùng trồng trồng ngô ở Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Hương Sơn. Tuy nhiên, để hạn chế bệnh có khả năng gây hại trên ngô thời gian tới cần tập trung điều tra phát hiện, khi xuất hiện bệnh, tùy theo mức độ nhiễm, nếu bị bệnh nhẹ thì tiến hành nhổ bỏ và tiêu hủy cây bị bệnh, nếu bệnh nặng tiêu hủy cả ruộng, đồng thời theo dõi diễn biến của rầy lưng trắng để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

* Biện pháp phòng trừ:

-  Sâu keo mùa thu: Làm sạch cỏ dại xung quanh vùng trồng ngô. Đối với những vùng chủ động nước tiến hành luân canh ngô - lúa để tiêu diệt nhộng trong đất. Sử dụng các biện pháp thủ công để phòng trừ như: làm bẫy (bẫy đèn, bẫy chua ngọt) để diệt trưởng thành. Kiểm tra, giám sát đồng ruộng để phát hiện ổ trứng, ngắt tiêu hủy. Khi mật độ sâu cao (4 con/m2) tiến hành phòng trừ bằng các loại thuốc hóa học (hoạt chất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định hướng) sau: Agfan 15 EC, Clever 150 SC, Obaone 95 WG, Match 50 EC, Radiant 60 SC,... 

-  Sâu xám: Vệ sinh cỏ dại trong ruộng và xung quanh bờ. Đối với những diện tích chưa gieo trỉa tiến hành cày bừa, xới ruộng, phơi đất để diệt sâu nhộng trước khi xuống giống; đối với những diện tích mới xuống giống đến 4 lá, điều tra phát hiện kịp thời và tiến hành phòng trừ khi mật độ sâu cao (trên 10 con/m2) bằng một trong các loại thuốc hóa học sau: Clever 150SC, Virtako 40WG, Voliam Targo 063SC, Tasieu 1.9EC, Regent 800WG...

 -  Đối với sâu đục thân, đục bắp: Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu. Cày bừa phơi ải, làm đất kỹ trước khi gieo hạt để tiêu diệt nhộng trong đất. Dự tính dự báo chính xác thời gian vũ hóa, thời gian trứng nở để phòng trừ kịp thời, hiệu quả, một số loại thuốc phòng trừ sâu đục thân như: vitako 40WG, Clever 150SC, Padan 95SP, Regent 800WG,… Khi thu hoạch, nên đưa thân cây ngô ra khỏi ruộng sử dụng làm thức ăn chăn nuôi hoặc làm chất đốt để tiêu diệt sâu, nhộng còn nằm bên trong thân, hạn chế nguồn sâu tích lũy cho các vụ sau.

- Đối với bệnh khô vằn, đốm lá:

Vệ sinh đồng ruộng, bón phân cân đối N, P, K; thường xuyên điều tra phát hiện và hướng dẫn phun trừ kịp thời khi bệnh chớm xuất hiện, sử dụng một trong các loại thuốc: Vida 5WP, Anvil 5SC, Validacin 5SL, Nevo 330EC,...

- Đối với bệnh lùn sọc đen: Thường xuyên kiểm tra, giám sát các vùng trồng ngô để phát hiện kịp thời cây bị bệnh, tiến hành nhổ, thu gom, tiêu hủy những cây bị bệnh để tránh lây lan ra diện rộng; trường hợp ruộng bị nặng, thực hiện cày vùi toàn bộ diện tích bị hại. Đồng thời theo dõi chặt chẽ diễn biến của rầy lưng trắng và tiến hành phun thuốc BVTV trừ rầy ngay ruộng đó và các ruộng xung quanh khi thấy rầy lưng trắng xuất hiện. Nếu mật độ rầy thấp, sử dụng các loại thuốc hóa học: Sutin 5EC, Azorin 400WP, Ba đăng 300WP, Chess 50 WG,..; nếu mật độ rầy cao, sử dụng các loại thuốc như: Victory 585EC, Wavotox 585EC, Bassa 50EC, Fidur 220EC...

2. Cây rau

2.1. Sâu tơ: Là đối tượng gây hại nguy hiểm nhất đối với rau họ hoa thập tự (cải bắp, su hào, súp lơ, cải xanh, cải bẹ...), sâu gây hại suốt quá trình sinh trưởng của rau. Sâu phát sinh gây hại từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, cao điểm gây hại từ tháng 1 đến tháng 3.

          2.2. Sâu khoang: Sâu phát sinh gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây rau, phá hại mạnh vào chiều tối và ban đêm, hại nặng từ tháng 10 đến tháng 11.

         2.3. Sâu xanh bướm trắng: Sâu thường gây hại giai đoạn phát triển thân lá, hại nặng trên những ruộng rau xanh tốt, bón thừa đạm. Để phòng trừ hiệu quả, cần theo dõi phát hiện thời kỳ trưởng thành ra rộ để phòng trừ kịp thời.

         2.4. Bọ nhảy sọc cong vỏ lạc: Bọ nhảy có thể gây hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây cải và thường gây hại quanh năm, nhưng mạnh nhất là khi cải còn nhỏ (sau gieo khoảng 7-10 ngày) đặc biệt hại nặng vào tháng 2 đến tháng 4. 

          2.5. Rệp muội: Rệp hại nặng trên trà rau vụ muộn, từ cuối tháng 11 đến cuối tháng 12, trong điều kiện khô hạn rệp càng phát sinh phát triển mạnh. Ban đầu tập trung gây hại ở búp non, lá non, cành non, quả và nụ (đậu đỗ) về sau mật số tăng nhanh xuất hiện trên lá già, thường bám mặt dưới lá chích hút nhựa cây. Ngoài gây hại trực tiếp rệp muội còn là đối tượng môi giới truyền bệnh virut cho rau.

            2.6. Bệnh lở cổ rễ:  Bệnh có thể tấn công suốt giai đoạn sinh trưởng của cây, thường gây thiệt hại nặng cho cây con, làm cổ thân bị úng và teo tóp lại, cây bị ngã ngang nhưng lá vẫn còn xanh tươi, sau đó mới héo lại. Bệnh thường tấn công mạnh vào 5-10 ngày sau khi gieo. Đặc biệt trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, độ ẩm cao hoặc mưa nhiều, nhất là trên các vùng đất cát, đất thịt nặng, đất chặt bí, những vùng đất ẩm ướt, trũng, thoát nước kém bệnh phát triển mạnh.

2.7. Bệnh giả sương mai: Gây hại chủ yếu trên họ bầu bí, hại nặng trên dưa chuột; bệnh phát sinh gây hại trên lá từ giai đoạn cây con (3-4 lá) và càng cuối vụ bệnh càng nặng, bệnh hại nặng khi thời tiết có mưa phùn, nhiệt độ thấp (từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau). Bệnh thường phát triển và gây hại ở mặt dưới lá, bệnh nặng làm lá biến dạng, phát triển kém.

         2.8. Bệnh sương mai: Bệnh gây hại chủ yếu trên cây rau họ cà, họ hoa thập từ, bệnh hại nặng giai đoạn phát triển thân, lá, ra hoa, đậu quả trở đi, điều kiện thời tiết ẩm độ không khí cao, đặc biệt xuất hiện sương mù, biên độ nhiệt độ ngày và đêm chênh lệch lớn (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh gây hại.

          2.9. Bệnh thán thư: Gây hại trên nhiều loại cây rau nhưng hại nặng nhất trên cây ớt, bệnh làm chết cây con, rụng lá và thối trái, bệnh hại cả giai đoạn bảo quản sau thu hoạch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Thời tiết nóng ẩm, ruộng thoát nước kém hoặc bón phân không cân đối là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh gây hại nặng.

          2.10. Bệnh thối nhũn: Do vi khuẩn gây ra, vi khuẩn gây hại chủ yếu trên rau họ hoa thập tự và gây hại suốt quá trình sinh trưởng của cây rau, cao điểm gây hại giai đoạn phát triển thân lá đến cuối vụ. Bệnh phát sinh phát triển mạnh ở đất trồng đã nhiễm bệnh vụ trước, thời tiêt nóng ẩm, ruộng không thoát nước, rễ phát triển kém cũng làm cho bệnh nặng hơn.

        * Biện pháp phòng trừ:

          - Đối với nhóm sâu ăn lá (sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng): Vệ sinh đồng ruộng, diệt cỏ dại, thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để ngắt bỏ ổ trứng mới nở, tỉa bỏ lá già diệt nhộng. Thực hiện tốt công tác điều tra phát hiện sớm khi sâu tuổi nhỏ, tiến hành phòng trừ khi mật độ sâu có khả năng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của rau bằng một trong loại thuốc hóa học sau: Trebon 10EC, Reasgant 3.6 EC, Delfin WG, V.K 16WP, Takare 2EC,....

            - Đối với bọ nhảy: Luân canh các loại cây trồng để hạn chế sự chu chuyển của bọ nhảy, sau khi thu hoạch cần cày đất phơi ruộng, thu dọn các tàn dư đem về ủ phân hoặc chôn sâu để diệt sâu non và nhộng; bọ nhảy trưởng thành ban ngày hoạt động mạnh, rất khó phòng trừ nhưng đêm ít hoạt động và thường tập trung giữa nõn cải nên tiến hành phun thuốc vào lúc chập tối để diệt trưởng thành bằng một trong các loại thuốc: Trebon 10EC, Reasgant 3.6 EC, Delfin 32WG.... Dùng thuốc hạt (Regent 0,3G, Basudin 5G, 10H) rải xuống hốc hoặc trên mặt đất trước khi trồng rau để diệt sâu non.

          - Đối với rệp: Kiểm tra ruộng rau thường xuyên, nếu thấy mật độ rệp cao, và liên tục gia tăng sử dụng một trong các loại thuốc để phun trừ: Trebon 10EC, Takare 2EC,...

  - Đối với nhóm bệnh do nấm (bệnh sương mai, lở cổ rễ, bệnh thán thư,…)

       Thu dọn, tiêu hủy tàn dư thực vật và làm sạch cỏ dại trước khi canh tác. Gieo trồng đúng mật độ, bón phân cân đối để hạn chế sự gây hại của bệnh. Thường xuyên kiểm tra giám sát đồng ruộng phát hiện sớm khi bệnh mới chớm xuất hiện, tiến hành phòng trừ bằng một trong các loại thuốc như: Mataxyl 25WP, Ridomil Gold 68WP, Daconil 500SC, Zineb Bul 80WP, Vali 5SL,…

 - Đối với bệnh hại do vi khuẩn (bệnh thối nhũn bắp cải, bệnh héo xanh vi khuẩn): Trong quá trình chăm sóc tránh làm tổn thương đến cây trồng, các vết tơng trên cây thể nơi vi khuẩn xâm nhập. Tiến hành phun phòng trừ khi bệnh mới chớm xuất hiện bằng một trong loại thuốc hóa như: Staner 20WP, Kamsu 2SL, Xantocin 40WP,...

       Lưu ý: Khi phát hiện bệnh hạn chế tưới nước trực tiếp lên lá và tuyệt đối không bón phân đạm và các loại phân bón lá có chứa đạm.

          Bên cạnh đó cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện và xử lý kịp thời các đối tượng dịch hại khác như: Bọ xít, rầy xanh, bọ phấn, nhện đỏ, bệnh xoăn lá vi rút, sâu đục quả... trên các loại rau.

       3. Trên cây khoai lang:

       Bọ hà: là dịch hại nghiêm trọng nhất cho khoai lang, thường gây hại ở những vùng khô hạn hoặc trong các mùa khô. Khi cây khoai chưa có củ bọ hà sống trong thân cây (dây khoai), với mật độ không cao. Khi củ bắt đầu hình thành chúng sinh sản rất nhanh và chuyển sang phá hại củ, nhất là những củ có một phần lộ lên khỏi mặt đất hoặc nằm sát mặt đất.

* Biện pháp phòng trừ:

- Sau khi thu hoạch khoai, tiến hành vệ sinh đồng ruộng, thu gom tàn dư bị bọ hà gây hại. Nếu có điều kiện cho nước ngâm ruộng vài ngày để tiêu diệt ấu trùng, nhộng nằm trong đất.

- Không dùng dây khoai ở những ruộng đã bị bọ gây hại làm giống cho ruộng khác; từ khi hình thành củ, phải vun cao và kín gốc không để củ bị ló lên khỏi mặt đất, thường xuyên tưới đủ ẩm cho luống khoai để đất không bị nứt nẻ.

- Trước khi trồng, nên ngâm hom giống vào dung dịch có chứa thuốc Diaphos 50EC, hay Vibasu 40ND/50ND, hoạt chất Diazinon  (pha theo nồng độ phun) trong vòng 30 phút để diệt sâu, nhộng bên trong hom giống.

          Lưu ý: Khi sử dụng thuốc phải đọc kỹ hướng dẫn trên bao gói, đồng thời tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng để phát huy tối đa hiệu lực của thuốc BVTV.

 

PHÒNG BẢO VỆ THỰC VẬT – CHI CỤC TRỒNG TRỌT VÀ BVTV

         

 

           

                                                                

 

           

                                                                

                                                                             

 

 

 

 

 

 

 

 

Các tin bài khác :
Tiêu điểm
Sâu bệnh, dịch bệnh
Hỗ trợ trực tuyến
kỹ thuật
Quản trị

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ TĨNH

Địa chỉ : Số 04 Đường Xô Viết Nghệ Tĩnh - Thành Phố Hà Tĩnh - Hà Tĩnh.

Điện thoại : 084-0239 3855598 - Fax : 084-0239.3856991

Email : sonongnghiep@hatinh.gov.vn

phim thuyet minh, phim an do, phim thai lan